hinh 2
Hinh 1
Giới thiệu - Công ty TNHH Làng Dòng

Giới thiệu

 

 

Trung Kiên-ngày đăng: 03/01/2012, 17:30 pm
 

Theo lời kể của cụ Nguyễn Bá Sơn (81 tuổi) nguyên bác sỹ, trung tá quân đội về hưu nhớ lại: “60 năm trở về trước, khi tôi là thanh niên được nghe các cụ kể rằng tục lệ hàng năm xã cử hành tế lễ tại 2 đền (đền Đại Vương và đền Tiết Nghĩa) vào 2 dịp Tế xuân (mồng 4 tháng Giêng) và Tế thu (ngày 15-8 âm lịch), trong đó ngày mùng 4 tháng Giêng là ngày lễ chính. Làng có gần 20 dòng họ, trong đó vào dịp Tế xuân không thể thiếu 4 họ: Trặng, Nội, Cương, Dích (là 4 họ có công trông nom làm đình Cả). Trong suốt quá trình hành lễ người ta rước Thành Hoàng làng (tức Đức đại vương Cao Sơn) từ đình Cả ra Văn chỉ với những nghi thức hết sức chặt chẽ và tôn kính. Trong không khí hội hè ấm cúng, kiệu bát cống có 8 phủ vóc đỏ, vàng được rước đi trước, từ đền tiến vào đình Cả. Kiệu trung đi sau, rẽ về đình Thượng. Nhiều trò vui dân gian cũng được tổ chức nhân dịp này như: Đánh vật, kéo co, trọi gà, chơi cờ tướng, hát chèo…

Đình Cả trở thành trung tâm lễ, hội của làng Dòng.
Đình Cả trở thành trung tâm lễ, hội của làng Dòng.

Để lễ tế đầu năm được mỹ mãn, người ta phải lo chuẩn bị mọi việc từ trước đó hàng năm. Mỗi phe, giáp, họ có nghĩa vụ đóng góp theo quy định. Những quy ước chung nhất cho một lễ hội ở làng quê người Việt thuở trước thì làng nào cũng phải tuân thủ. Chẳng hạn, trước mỗi dịp Tế xuân, mõ làng phải đi rao: “Năm nay làng mở hội, gái chưa chồng phải đồng lòng ra đình; đại tang thì chớ, tiểu cố thì đi”.

Lễ Tế xuân làng Dòng có những quy định tuy khắt khe nhưng lại cần thiết về mặt tâm lý: Lợn tế phải là lợn đen tuyền, không dùng lợn lang, lợn bạch, trước ngày hiến tế nửa tháng lợn không được cho ăn cám mà sẽ được ăn cháo hoa, tắm rửa sạch sẽ và đổ một chén rượu vào đầu để giải độc. Khi đưa ra đình dự tế, lợn phải được để nguyên con, không pha thành các món.

Văn tế xuân thường làm theo mẫu chung, kể rõ niên, hiệu, ngày, tháng, tỉnh, phủ, huyện, xã; liệt kê rõ tên tiên, thứ chỉ, chức sắc, kỳ mục, kính dâng lễ vật, cáo với vị thần nào. Tả văn phải gắn vào địa danh cụ thể là làng Dòng, phải lột tả được lòng mong ước của dân chúng năm ấy đối với công việc đồng áng cũng như trong đời thường. Văn tế được viết trên giấy điều có phun nhũ vàng hình rồng, phượng. Sau lễ tế Thành Hoàng, tiên chỉ phải thân chinh xuống ruộng cày đường cày đầu tiên (mô phỏng hành vi “hạ điền” của các vua chúa ngày xưa).

Lễ tế xuân ở một làng, nhìn dưới góc độ văn hóa là bức tranh xuân hoành tráng do tập thể nhân dân sáng tạo nên, in đậm dấu ấn dân tộc và địa phương văn hiến; nó chứng tỏ văn minh làng xã đương thời thịnh đạt. Đã một thời những sinh hoạt văn hóa kiểu này ở làng quê bị xem là “tàn dư” của chế độ cũ nên đã không tránh khỏi bị “đối xử” thiếu công bằng. Nếu lược đi phần mê tín dị đoan, đó thực chất là những biểu hiện cao đẹp trong thế ứng xử văn hóa của người xưa – uống nước nhớ nguồn và làm sang thêm cho cuộc đời còn lắm nỗi truân chuyên.

Đoạn đường vài trăm mét bên cạnh UBND xã bây giờ có lẽ là chốn đông vui, náo nhiệt nhất. Quán phở, quán cơm, bánh đúc lạc, bánh bột lọc, bánh dày tai trâu… Là những món chỉ ăn một lần mà nhớ mãi hương vị làng quê. Đến nay, món bánh đúc lạc vẫn được bán ở chợ Dòng vào những phiên chợ chính và được nhiều người ưa dùng vì bánh có vị mát, thanh đạm, dân dã. Ngày xuân, các bà, các chị được dịp đua nhau chưng diện áo quần; những chiếc đèn lồng, đèn kéo quân lòe loẹt vui mắt; những cụ già thích ướm những chiếc guốc tre hớt cao phía trước có quai bắt chéo như dép Thái Lan - loại guốc ấy bây giờ không còn hợp thời nữa. Theo lệ làng, phái đẹp không được tham gia vào các nghi thức lễ hội, song họ vẫn có nhu cầu giao tiếp và muốn được hòa vào không khí lễ xuân một cách tự nguyện.

Đêm đêm tiếng hát chèo của các chiếu chèo Hà Thạch, Thạch Sơn, có khi tiếng hát quan họ, hát trầu văn của đoàn Bắc Ninh, Sơn Tây vẳng ra từ nhà chủ tế (chủ tế nhận nuôi cơm cánh này) đã làm mềm lòng bao chàng trai, cô gái. Ba mươi sáu xóm quần tụ trên các quả đồi như ngợp trong màn sương cổ tích. Kết thúc lễ Tế xuân thường vào mồng 7, mồng 8, người ta lại tổ chức rước thần về miếu, gọi là rước Hoàn Cung, nghi lễ cũng như hôm rước về đình.

Khi được hỏi về cách thức lưu giữ những nét đẹp văn hóa trong tế lễ ngày xuân của làng hiện nay, ông Nguyễn Văn Thông (75 tuổi, là nhà giáo đã về hưu) cho biết: “Do một vài yếu tố khách quan mà lễ Tế xuân ở làng Dòng tuy vẫn được duy trì nhưng cứ vài năm mới được tổ chức “hoành tráng” một lần vào hai ngày (mồng 3 và mồng 4 Tết). Những năm còn lại chỉ làm lễ nhỏ (sái lễ) để các dòng họ có dịp kính cáo tiên tổ và Thành Hoàng làng. Nếu bảo tồn và duy trì tốt phong tục này thì đó sẽ là niềm tự hào về nơi chôn rau cắt rốn của những người con đất học xa quê mỗi dịp Tết đến xuân về”.